Quán Ăn Cũ: Phần Cuối


Những ngày đầu hạ nắng gắt, trên con hẻm nhỏ thấp thoáng mấy bóng người, họ hối hả chạy đi dưới tiết trời như thiêu như đốt. Ông già Hóa đã dọn đi được hơn mươi bữa rồi, cậu Hoàng chắc là cũng theo lão về đó, bà Nghị ngồi trong quán nhìn ra, thấy con hẻm đột nhiên im ắng lạ thường. Cậu thanh niên bữa trước cũng chưa thấy quay lại, chắc cậu ta cũng từ bỏ cái ý định học nấu ăn luôn rồi.

Tấm biển hiệu đung đưa trước mặt, cơn gió nhỏ hiếm hoi trong ngày chợt thổi ngang qua, mấy cọng tóc bạc lõa xõa của bà cũng rung rinh theo. Tiếng ông chồng ho lên mỗi lúc một nhiều, lão ho thành từng cơn, từng cơn kéo dài. Lòng bà se lại, lão cứ nằm đó mấy tháng trời, chẳng biết bao giờ mới khỏi, cũng chẳng chịu vào bệnh viện thăm khám, lão sợ tốn tiền. Bà đi vào trong xem chừng, thấy lão cứ ho sù sụ như vậy, hai mắt thì nhắm nghiền, xem ra đã mệt lắm rồi. Lão nghe tiếng bước chân nên biết là bà vợ đi vào, cố hít một hơi thật sâu rồi yếu ớt nói:

- Bà gọi cả nhà cái Mai sang đây, tôi có chuyện muốn nói với chúng!

Bà Nghị ngơ ngác, chẳng hiểu lão lại muốn trách mắng chúng chuyện gì mà tự dưng lại dở chứng như thế. Hai vợ chồng đã cãi nhau suốt mấy chục năm, bây giờ mà vặn vẹo hỏi thêm không khéo lão lại nổi điên lên, bà thấy lão đã yếu lắm rồi, không nỡ đôi co với lão nên chạy vội ra đầu hẻm, đánh điện cho vợ chồng chị Mai.

Chị Mai đi làm công nhân tới mịt tối mới tan ca, còn anh Sang chạy xe ôm nên về nhà sớm hơn. Họ chờ thằng Tít đi học về, rồi cả nhà bồng tống nhau trên chiếc xe máy chạy sang nhà bà ngoại.

Bà Nghị dẹp quán từ sớm, ngồi đợi cả nhà chị Mai đến. Hơn sáu giờ tối mà chẳng thấy tăm hơi bọn họ đâu cả, mãi một lúc sau mới có ánh đèn lờ mờ của một chiếc xe máy từ đầu ngõ rọi vào, bà đi ra cửa thì đúng là vợ chồng anh Sang. Chiếc xe máy đã cũ lắm rồi, nổ to như pháo liên, anh Sang vừa quẹo vào con hẻm đã vội vàng tắt máy, xuống dẫn bộ một đoạn vào trong. Anh biết ông bố vợ khó tính lại thiếu thiện cảm đối với mình nên mỗi lần sang đây anh đều làm như vậy, đến đi đứng nói năng cũng không dám tùy tiện, rồi cứ thế thành thói quen lúc nào cũng chẳng hay. Cô Mai chạy lại chỗ bà Nghị, ghé sát tai hỏi nhỏ:

- Lại có chuyện gì thế mẹ? Bọn con còn chưa ăn uống, tắm rửa gì hết!

Bà Nghị lắc đầu, nói:

- Thì mày cũng rõ cái tính của bố mày quá mà, lão nghĩ cái gì trong đầu cũng có bao giờ mở miệng nói với mụ già này đâu! Thôi vào gặp lão xem thế nào!

Gương mặt cô Mai hơi sượng sùng, mỗi lần gặp bố là thể nào cô cũng bị ông quở mắng, cho nên bây giờ cứ nghe ông ấy gọi là cô lại thấy nơm nớp trong lòng, mà không chỉ mình cô, cả chồng cô cũng vậy.

Mọi người cùng nhau đi vào, từ lúc họ đến đây thì không ai nghe thấy lão ho nữa, có lẽ lão đợi lâu quá nên ngủ rồi. Bà Nghị đi khẽ đến cửa phòng, vừa bước vào vừa nói:

- Tụi nhỏ đến cả rồi đây này, ông có muốn nói cái gì thì nói cho lẹ vào, để chúng còn về nhà ăn uống, nghỉ ngơi!

Lão vẫn im lặng, chắc đã ngủ thật rồi. Bà đi đến cạnh giường, thấy cặp mắt lão mở to, sáng hoắc, mồm há to như muốn chửi ra mấy câu nhưng mãi mà không thốt ra lời nào. Lão chết rồi.

Bà bàng hoàng quá, ngã quỵ xuống, ngất đi...

Sáng sớm hôm sau, cả khu phố ồn ã cả lên. Người người cứ đi đi lại lại trong con hẻm nhỏ nhà bà Nghị, tiếng kèn trống inh ỏi, tiếng trò chuyện râm ran, xen lẫn trong sự ồn ào là những tiếng nấc nghẹn ngào, tiếng thút thít khe khẽ. Bà Nghị, anh Sang và thằng Tít mặc đồ tang, trên đầu quấn khăn trắng đứng xung quanh cỗ quan tàu màu nâu. Chị Mai ôm đứa con gái chỉ hơn một tháng tuổi ngồi bên cạnh, thi thoảng lại ngất đi, bà Nghị phải thay cô bồng đứa cháu, còn anh Sang đứng bên cạnh ôm chặt lấy vợ.

Đến trưa thì đội tang lễ của khu phố khiêng chiếc quan tài đi, cả nhà bà Nghị đi trước, mấy chục người đưa tiễn bước theo sau. Dưới cái nắng như thiêu như đốt, ai nấy đều mồ hôi nhễ nhại, chỉ nghe tiếng kèn trống đinh tai nhức óc, mấy lá cờ màu trắng phất phơ trong gió, một đoàn người lặng lẽ đi về hướng nghĩa địa, có người thấp, có người cao, có người khóc, có người không, nhưng tuyệt nhiên chẳng một ai thốt ra lời nào...

Bà Nghị thắp ba nén nhang, cắm vào lư hương rồi lẩm nhẩm khấn vái:

- Mấy chục năm nay ông chẳng bao giờ chịu nhường tôi câu nào, đến chết mà cũng muốn chết sớm hơn tôi, chả hiểu ngày xưa tôi nghĩ cái gì mà lại chịu lấy ông!

Bà vái mấy cái rồi tự nhiên lại mỉm cười, trong lòng dường như đang suy nghĩ về một điều gì đó, một điều gì đó vui vẻ.

- Cháu đến thắp cho ông cụ mấy cây nhang!

Bà quay lại nhìn, là anh Hoàng.

- Sao cậu lại biết ông ấy mất? Chẳng phải cậu ở dưới với ông Hóa đến một tháng hay sao?

Anh Hoàng đốt nhang, chắp tay khấn mấy câu rồi quay lại nhìn bà, nói:

- Cháu cũng định ở dưới đấy một tháng phụ ông cụ sắp xếp mọi thứ đâu vào đó, mà cũng chẳng mấy việc nên xong cả rồi, vừa lên đến đây thì nghe ông lão mất nên vội qua đốt cho ông ấy mấy nén nhang ạ!

- Lão ấy ra đi đột ngột quá cậu ạ, chẳng kịp gặp mặt con cháu lần cuối!

- Vậy chị Mai chắc buồn lắm cụ nhỉ?

Bà Nghị cười, lắc đầu nói:

- Không, lão không giận con bé nữa, lão tha thứ cho nó rồi!

- Từ bao giờ vậy cụ?

- Tôi cũng không biết nữa, chỉ biết lúc sắp chết, trong tay lão nắm chặt một lá thư, hình như lão viết từ năm ngoái lận!

- Vậy ra ông cụ biết mình bệnh nặng nên viết sẵn một lá thư để lại!

Bà Nghị nghĩ ngợi một hồi, thở ra một hơi dài rồi nói:

- Lão ấy bị lao phổi cậu ạ, nặng lắm, mà lão giấu nhẹm đi. Lão đi khám mà đâu có cho ai hay, khám xong cũng im ỉm một mình luôn, đã vậy còn viết hết trong thư rồi đem giấu dưới gối. Mà lão cũng tài thật, ngày nào tôi cũng dọn dẹp mà đâu có thấy thư từ gì, mãi đến khi lão chết mới lấy ra nắm trong tay. Lão nói lão bị lao phổi, thời kì cuối rồi, có tốn tiền thuốc thang cũng chả cứu được cái mạng của lão nữa, nên lão cứ ho suốt rồi nằm mãi trên giường chẳng chịu ra gặp ai, lão sợ lây bệnh cho mọi người, lây cho con cháu nên gặp chúng lão cũng chẳng thèm nói một câu. Cái lão già ngu ngốc, bác sĩ đã bảo bệnh của lão không lây cho người khác, thế mà lão vẫn sợ, suốt nửa năm vừa rồi cứ ngậm miệng như người câm, chẳng chịu nói với ai câu nào, chỉ khi bị tôi chọc cho nổi khùng thì lão mới chịu mở miệng, làm cho con Mai với thằng Sang cứ tưởng lão còn giận chuyện chúng nó tự ý làm đám cưới, thành ra đâu có dám đến gặp lão. Rồi lão buồn, mà chúng nó cũng buồn, cậu xem lão có ngốc hay không?

Anh Hoàng cười gượng, không biết trả lời thế nào.

Lại nghe bà Nghị hỏi:

- Thế còn cậu? Đau ốm thế nào mà không chịu nói cho ai biết? Cứ giấu giấu diếm diếm rồi làm khổ người khác, cậu phải lấy cái lão chồng nhà tôi mà làm gương đấy!

Anh cười hì hì, nói:

- Không có đâu ạ, cháu chỉ bị suy nhược một chút thôi, bác sĩ cũng đã bảo là không sao! Cái tối mà cháu tới quán của cụ, lúc ra về tự nhiên lại lăn ra ngất xỉu giữa đường, cũng may lúc ấy còn sớm nên người ta thấy kịp, đưa cháu vào bệnh viện rồi gọi cho ông cụ vào chăm. Ông ấy còn thương cháu lắm cụ ạ, cứ ở mãi trong bệnh viện với cháu không chịu về, đến khi bác sĩ bảo là cháu không sao, nếu ống ây cứ ở mãi trong viện như vậy không chừng cũng đổ bệnh thì ông ấy mới chịu về nhà nghỉ.

- Mà lão ấy ở dưới đấy một mình liệu có ổn không cậu?

- Cụ an tâm, ông cụ về đó gặp lại mấy người bạn già nên cũng vui lắm ạ, không còn suy nghĩ đến những chuyện cũ nữa!

Bà Nghị thấy hơi yên lòng, mĩm cười hỏi:

- Còn cậu thì sao? Bao giờ mới chịu đi bước nữa?

Anh Hoàng gãi đầu, ngượng nghịu đáp:

- Thật ra lâu nay cũng có một cô bạn đồng nghiệp để ý cháu, mà cháu thấy cô ấy cũng được cụ ạ, nhưng cứ nghĩ đến Thùy thì lòng cháu cứ đau đáu không yên, nên chắc cứ ở vậy thôi cụ ơi!

Bà vuốt mái tóc xoăn của anh, trong lòng cứ tưởng đây chính là đứa con cả của mình, nhẹ nhàng nói:

- Con bé mà thấy cậu như vầy thì làm sao yên nghỉ được? Những thứ mà con bé chưa làm được cho cậu, hãy để một cô gái khác làm thay nó, giống như ngày xưa nó đã rất cố gắng làm cho bố nó vui thay mẹ nó, cậu thấy có đúng không?

Anh mỉm cười, không nói gì, một lúc sau thì chào bà ra về...

Ngoài trời mưa như trút nước, một cơn mưa trái mùa. Từ ngày ông chồng qua đời, bà Nghị cứ lủi thủi trong nhà một mình, may mà còn có cái quán ăn này để khuây khỏa, nếu không chắc bà buồn đến chết. Mấy lần bà tính gọi cho cô Mai, bảo cô ấy về đây ở với bà vài hôm cho đỡ cô quạnh, những nghĩ lại cô ấy bây giờ đã có chồng, có hai con, có một gia đình nhỏ của riêng mình, đâu còn là đứa con gái bé bỏng của bà như ngày xưa nữa mà cứ bám riết lấy mẹ. Người ta hay nói con gái mà có chồng rồi thì cũng như thành con của người khác, bà càng nghĩ lại càng thấy đúng, dù thi thoảng anh Sang cũng chở mẹ con cô ấy sang thăm bà, nhưng đến được một lúc rồi cũng đi, đâu có như ngày xưa hai mẹ con ôm nhau ngủ, trò chuyện tới tận khuya. Bà buồn rầu thở dài, phải chi lúc này trong quán có vài người khách thì nghe họ trò chuyện cũng vui được một chút. Mà hôm nay mưa to quá, người ta ngại ra đường nên trong quán vắng tanh, cái công trường kế bên cũng hoàn thành lâu rồi, mấy anh công nhân đã chuyển đi nơi khác hơn nửa tháng trước, thành thử lúc này chỉ có mỗi mình bà ngồi rủ rượi trong quán.

Bên ngoài mưa càng lúc càng to, sấm chớp cứ thi nhau nổ, dưới làn mưa như thác đổ có một người chạy thật nhanh, người đó chạy vội vào trong quán.

Là cậu thanh niên tên Quân, bà Nghị thấy quần áo cậu ta ướt sũng, không, là ướt như chuột lột mới đúng. Cậu Quân cứ đưa tay lên vuốt mặt, hai hàm răng đánh vào nhau cồm cộp, run rẩy nói:

- Cháu đến học nấu mì như đã hứa!

Bà Nghị chẳng nói chẳng rằng, đi vào trong nhà. Một lúc sau bà trở ra với một bộ quần áo trên tay, chìa về phía cậu Quân rồi nói:

- Nếu cậu không ngại mặc quần áo của người đã chết thì ra sau thay vào đi, chứ nhìn cậu bây giờ cứ như mấy con chuột vừa chui ra khỏi cống thì làm sao mà nấu nướng được!

Cậu nghe nói đó là quần áo của người đã chết nên thấy hơi rùng mình, nhưng lạnh quá không chịu nổi nữa, đành đi ra sau nhà thay quần áo. Cậu đi ngang qua phòng khách, thấy bàn thờ có hình một ông lão, nhang khói còn nghi ngút, biết là mới chết nên mới có nhiều người đến thắp nhang như vậy, bất chợt ớn lạnh hết cả người. Cậu thay quần áo xong thì trở ra đằng trước, quần áo cũ bị ướt cũng còn cầm trên tay, mặt mũi tái mét như người bị chết trôi, run run nói:

- Bộ đồ này thật vừa vặn nhưng không hợp với một ông già cho lắm!

Bà Nghị lườm cậu ta một cái, nói:

- Đồ này là của con trai tôi, nó mất lúc cũng trạc tuổi cậu, lâu nay tôi vẫn cất trong tủ, cái gì mà hợp với không hợp, còn nếu không thích thì cứ mặc đống quần áo ướt mèm như ngâm nước của cậu đi!

Bà đưa cho cậu hai cái móc, nói:

- Treo quần áo lên dây cho khô rồi vào bếp tôi dạy cho, may phước cho cậu là hôm nay tôi cũng đang rảnh đấy!

Bà còn ác cảm với cậu ta nên giọng điệu cũng khó nghe vô cùng. Cậu luống cuống hết chân tay, treo vội bộ quần áo lên rồi tò tò đi theo bà vô bếp.

Bà Nghị cho cậu ta xem mớ nguyên liệu cần dùng, chỉ cậu ta cách chế biến một cách tỉ mỉ, vừa cho mì vào trong nồi bà vừa hỏi:

- Thế bà cậu đã bao nhiêu tuổi rồi? Người già thì răng cũng yếu đi, phải nấu lâu hơn một chút!

Cậu ngập ngừng một hồi lâu mới trả lời:

- Bà cứ dạy cháu nấu như bình thường là được rồi!

- Vậy là bà ấy cũng chưa lớn tuổi lắm nhỉ?

- Hết năm nay là bà ấy được bảy mươi tám tuổi!

Bà Nghị quay sang nhìn Quân, bĩu môi nói:

- Gớm! Thế mà tôi cứ tưởng cậu cũng hiếu thảo lắm cơ đấy!

Môi cậu ta mấp máy nói không nên lời:

- Bà ấy... chết đã hơn mười năm rồi, bà ấy cố ôm cháu khi ngôi nhà sụp xuống trong chính cơn bão khủng khiếp đó, còn bố mẹ cháu thì đang ở trên thuyền đánh cá, cũng vào ngày hôm ấy!

Tay cậu ta run lên, chẳng biết vì lạnh hay là vì đau lòng, hai mí mắt cứ chớp liên tục như bị thứ gì đó bay vào.

Bà Nghị lặng im, trong lòng cứ thấy thương cảm, chẳng hiểu một đứa trẻ khi ấy chỉ mới bảy, tám tuổi thì làm sao mà tồn tại đến tận ngày hôm nay.

Mặt Quân vẫn trắng bệch, hai bên khóe mắt trào ra nhưng giọt lệ nóng hổi, lẩn vào những giọt nước mưa lăn xuống từ mái tóc như cố che đi sự yếu đuối của một đứa trẻ trong thân xác người lớn. Cậu lẳng lặng xem bà Nghị nấu mì, không nói thêm lời nào.

Trời cứ mưa mãi không dứt, những giọt mưa lớn như những hạt thóc cứ lũ lượt rơi xuống, nặng trĩu như lòng của cậu thanh niên đang đứng trong quán. Cậu đợi mãi nhưng mưa chẳng chịu tạnh, đành đội mưa ra về. Bà Nghị gọi với theo, trên tay cầm một cái ô muốn đưa cho cậu ta nhưng không kịp nữa rồi...

Đã bốn tháng trôi qua kể từ khi ông chồng mất, bà Nghị cứ quanh quẩn trong cái quán ăn mà ông ấy để lại. Anh con rể của bà đã tìm được công việc mới, thu nhập cũng đỡ bấp bênh hơn, chị Mai cũng không còn phải tăng ca như lúc trước, thành thử hai vợ chồng cứ tối tối lại dắt hai đứa con sang đây. Bà vui lắm, không biết đã bao nhiêu lâu rồi bà không được vui như vậy, nhìn hai đứa cháu ngoại cười đùa ttrước mặt khiến bà thấy mình như trẻ ra cả chục tuổi, nếp nhăn cũng không nhiều thêm nữa.

Hôm nay bà mở cửa quán thật sớm để đón khách, thế nhưng vẫn như thường lệ, trong quán chẳng có một ai. Đến xế trưa mới có người vào gọi cơm:

- Một phần rau luộc chấm kho quẹt, một phần rau luộc chấm trứng cụ ơi!!

Là anh Hoàng, bà thấy anh ấy đi cùng một cô gái cũng trạc tuổi cái Thùy. Bà nhìn anh mỉm cười:

- Tiên sư nhà anh, vẫn còn nhớ đến cái quán nhỏ của tôi đấy à!

Anh Hoàng cười tươi trả lời:

- Cháu làm sao mà quên được, mà cụ đổi tên quán từ bao giờ đấy ạ?

-Lâu rồi, tại anh không chịu ghé qua đây nên không biết đấy thôi!

Anh Hoàng lôi từ trong túi ra một cái thiệp màu đỏ, hai tay đưa cho bà Nghị, ngượng nghịu nói:

- Cuối tháng này mời cụ sang uống với bọn cháu chén rượu mừng!

Bà Nghị nhận lấy, chẳng hiểu sao trong lòng cũng thấy vui lây. Anh Hoàng đưa cho bà thêm một cái thiệp nữa, nói là không biết nhà của cô Mai nên nhờ bà chuyển hộ cho cô ấy, dù sao cô ấy với Thùy cũng là chỗ chị em thân thiết. Hai người ăn xong bữa rồi chào bà ra về, trên đường còn phải ghé qua nhiều chỗ nữa để phát thiệp.

Họ đèo nhau trên chiếc xe máy, chẳng hiểu vì trời lạnh hay tại sao mà cô gái kia cứ ôm chặt lấy anh Hoàng, chiếc xe chậm chậm chạy ra khỏi con hẻm rồi mất hút ở đường lớn.

Mùa đông năm nay cũng thật lạ, trời se lạnh nhưng lại không có mưa. Dưới mái hiên của một quán ăn nhỏ, có một bà già nhỏ thó cứ đứng ngây người ra, bà ta mỉm cười trong vô thức, đưa mắt nhìn xa xăm như đang tìm kiếm một khoảng trời tươi đẹp. Những cơn gió lạnh lùa qua làm cho mấy sợi tóc bạc trên đầu bà ấy khẽ rung rinh, tấm biển hiệu bằng gỗ treo lủng lẳng bên trên cũng đu đưa theo gió, gõ vào trong vách những giai điệu lách cách nghe thật vui tai. Tấm biển hiệu thật lớn, từ ngoài đầu đường người ta cũng có thể nhìn thấy nó, một tấm biển bằng gỗ dường như sắp mục nát, bên trên có viết bốn chữ theo lối thư pháp bằng mực đỏ: "Quán Ăn Ấm Áp".

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chương 1: Biến Cố Thời Thơ Ấu

Dưới Chân Cầu

Lời Chưa Nói