Quán Ăn Cũ: Phần 5


Ông Hoá thấy bà ta đồng cảm với mình, mặt mày bỗng trở nên ủ rủ nên vội xua tay nói:

- Ấy chết, đang vui mà tự dưng tôi lại kể chuyện buồn, thật là bậy hết sức!

Lão cười hà hà, cố xua đi cái không khí buồn bã đang vây lấy hai người. Lão đâu có biết được cái nguyên do sâu xa khiến bà Nghị buồn như vậy, mà có lẽ lão cũng chẳng bao giờ hiểu được tại sao món rau luộc kho quẹt do con gái mình làm lại có mùi vị giống của bà đến thế.

- Ngày mai tôi chuyển về quê ở hẳn luôn chị ạ! Lúc sinh thời bà nhà tôi với cái Thùy cứ nằng nặc đòi ở đó, mà tôi đâu có chịu, tôi nhất quyết phải bỏ xứ đi nơi khác làm ăn. Tới hôm nay thì hai mẹ con bà ấy cũng bỏ tôi mà đi, âu cũng là ông trời trách phạt tôi mà thôi! Cho nên hôm nay tôi tới đây chào tạm biệt anh chị, dù gì cũng là tình làng nghĩa xóm mấy mươi năm. Từ ngày cái Thùy nó mất, tôi cứ như điên điên khùng khùng, nhỡ may có làm cái gì phật lòng cũng mong hai vợ chồng bỏ qua cho!

Hai năm qua, tuy lão như trở thành một con người khác, lủi thủi trong nhà chẳng mấy khi giao tiếp với ai, nhưng nói làm điều gì mất lòng làng xóm thì cũng không có, chẳng qua lão áy náy vì cái hôm cô Thùy chết, lão cư xử không phải với bà mà thôi. Bà Nghị cũng chẳng còn để bụng chuyện đó, ai ở vào hoàn cảnh của lão mà lại không như vậy? Bà lấy thêm cho lão một cốc bia, đặt lên bàn rồi nói:

- Thôi cụ ạ! Chuyện đã bao nhiêu lâu mà còn nhắc làm gì. Nhưng cụ cũng nên nói với cậu Hoàng một tiếng, dầu gì cũng gọi nhau bố bố con con suốt mấy năm trời, cụ mà lẳng lặng ra đi như thế cũng không nên!

Ông Hóa lại bật cười, không nhớ nỗi từ khi đến đây lão đã cười bao nhiêu lần. Có lẽ nụ cười là thứ mà lão đã khao khát suốt ngần ấy thời gian, lão cười như một đứa trẻ. Lão lôi từ trong túi áo ra hai tờ giấy, đặt trên bàn rồi nói:

- Chị nhìn xem! Thằng Hoàng nó còn mua hẳn vé tàu cho tôi đây này!

Bà Nghị thấy hai tấm vé, đúng là vé tàu ngày mai thật.

Lão chậm rãi nói tiếp:

- Thằng này cũng chu đáo phết chị ạ, nó sợ ông già này về quê thì tứ cô vô thân, chẳng quen biết ai thì xoay sở làm sao, nên nó xin nghỉ phép hẳn một tháng, về đó phụ tôi sửa sang lại nhà cửa, rồi dời cả bàn thờ mẹ con cái Thùy về đấy luôn!

Bà Nghị lấy làm lạ:

- Thế cậu ấy không thờ cái Thùy nữa hay sao?

Lão nói:

- Đấy là ý của tôi, nó bảo muốn để bàn thờ con bé trên đây nhưng tôi không cho!

- Sao cụ lại làm thế? Dù gì cũng là tình nghĩa vợ chồng, người có mất đi nhưng cái nghĩa thì làm sao bỏ được?

Mặt lão hơi xịu xuống, tay vuốt ve cái nón cối, nói:

- Cái đó tôi biết chứ, nhưng tuổi nó còn trẻ, hai đứa cũng chưa có con cái gì, trong nhà cứ thờ cúng cô vợ quá cố thì ai mà dám rớ vào? Mà có rớ vào đi chăng nữa cũng sinh ra lắm chuyện thôi chị ạ! Cho nên tôi mới mang cái Thùy về quê, còn phần cậu ấy có nhớ thì hằng năm về phụ tôi cúng quảy, vậy là tôi vui lắm rồi, từ đây về đó cũng đâu có xa xôi gì mấy! Tôi làm vậy chắc cái Thùy nó cũng mãn lòng nơi chín suối!

Bề ngoài lão khô khan, khó gần, ai ngờ cũng sâu sắc như thế. Bà Nghị thấy lão nghĩ chuyện quả thật hợp lý hợp tình, cứ tưởng như đây là một người khác, đâu có phải ông già Hóa, hàng xóm của bà. Bà nhìn lão với ánh mắt khác lạ, một lúc sau mới lên tiếng:

- Cả tháng nay tôi không thấy cậu ấy, chẳng biết lại bận bịu công việc gì rồi?

Lão thở dài một cái rồi nói:

- Nó bệnh, nằm trong viện hơn nữa tháng chị ạ! Tội nghiệp, chắc từ ngày cái Thùy mất, nó suy sụp dữ lắm nên mới ngã bệnh như thế! Mà vừa ra là viện nó lại chạy đôn chạy đáo lo cái vụ bán tiệm của tôi nên chẳng còn mấy thời gian để ghé qua đây.

- Cụ bán tiệm rồi sao? Tôi cứ lu bu mãi nên chẳng nghe ai nói gì!

Lão cười mãn nguyện nói:

- Bán rồi chị ạ! Nghĩ mấy mươi năm công sức cũng thấy tiếc, mà thôi, nhờ bán cái tiệm mà tôi cũng kiếm được ít tiền, về quê an hưởng tuổi già, chứ bây giờ mắt mũi kèm nhèm, có giữ lại cũng chả làm ăn gì được! Mà tôi bán lại cho người quen, người ta tu sửa một ít rồi tiếp tục làm nghề, nên thấy cũng an ủi phần nào!

Lão ngưng một lúc rồi nói:

- Chị cho tôi thêm một cốc nữa chứ chẳng biết bao giờ lại có dịp ngồi uống bia ở đây, mà chắc đây cũng là lần cuối rồi chị ạ!

Nghĩ cũng phải, lão lớn tuổi rồi, lần này về quê chắc ở hẳn dưới đấy, sức đâu mà mò lên đây nữa. Bà mang thêm cho lão một cốc bia, lão nói thêm vài câu, gắp thêm vài gắp, uống hết bia trong cốc rồi đi về...

Hôm nay có mấy tốp sinh viên đi tham quan trong thị trấn, buổi trưa họ ghé quán bà Nghị ăn cơm. Ai nấy đều tấm tắc khen đồ ăn ngon, quán lại sạch sẽ, bà Nghị trong lòng phấn khởi, vừa kiếm được tiền, vừa được khen như thế thì ai mà chả vui. Họ ăn uống xong, nán lại trong quán trò chuyện, không khí trong lành ở cái trị trấn nhỏ này thật khó kiếm trên thành phố, đến hai giờ chiều bà mới được rảnh tay ngồi nghỉ mệt. Từ đầu năm đến giờ, có lẽ hôm này là ngày quán bà đông khách nhất, cũng là ngày mà bà phải làm việc nhiều nhất, cả người mệt lã, bà tính đóng cửa sớm để sang thăm hai đứa cháu ngoại. Bà kê bàn kê ghế cho gọn gàng, đóng cái tủ đựng thức ăn lại, chuẩn bị đi vào trong thì nghe tiếng người nói:

- Bà già, một bát mì hải sản!

Không cần nhìn bà cũng đoán được là tên thanh niên xấc xược kia. Cậu tự lấy ghế xuống ngồi, cứ như là khách quen. Mà kể cũng phải, cậu ta đến đây mấy lần rồi, cũng xem như là khách quen còn gì? Bà Nghị chẳng nói chẳng rằng, làm mì rồi đem ra cho cậu ấy.

Cái cảnh tượng cậu ta ăn uống như chết đói lâu ngày lại làm bà thấy bực bội, nên bà đặt bát mì lên bàn rồi đi ra cái bàn trước cửa ngồi. Bà chỉ vừa quay lưng thì nghe người thanh niên đó gọi:

- Bà ơi, cho cháu hỏi thăm một chút có được không?

Bà Nghị thấy quái lạ, sao ai tới đây ăn vài lần cũng trở nên khác thường như vậy? Bà vẫn còn chưa tin vào tai mình, quay lại hỏi:

- Cậu vừa gọi tôi đấy à?

Người thanh niên đó liếc ngang liếc dọc mấy cái rồi mới trả lời, giọng cậu ta nhỏ đến mức bà phải lắng tai mới nghe rõ:

- Dạ vâng, bà ngồi xuống cho cháu hỏi thăm một tí có được không?

Bà vẫn chưa hết bất ngờ nhưng cũng kéo ghế ngồi xuống. Người thanh niên kia cũng kéo ghế tới ngồi kế bên bà. Mặt cậu ta bắt đầu đỏ bừng lên, hai con mắt to tròn khiến cho người đối diện vừa cảm thấy sợ hãi, lại vừa cảm thấy dễ gần. Cậu nói rất nhỏ dường như sợ người khác nghe thấy, mặc dù trong quán chỉ có hai người họ:

- Bà có thể... có thể...dạy cho cháu làm món này được không?

Bà Nghị càng nghĩ càng thấy quá đỗi ngạc nhiên, vừa ngạc nhiên vừa tức cười, ai mà tưởng tượng nổi cậu ta sẽ nói như vậy, mà người như cậu ta lại muốn học nấu ăn thì chả phải buồn cười lắm sao? Bà cố nén lại, hỏi:

- Chả nhẽ có người thuê cậu đi học lóm công thức của tôi sao?

Ngoài miệng nói vậy nhưng bà biết là không phải, bởi trong cái thị trấn nhỏ tí này thì có được mấy quán ăn? Quán nào cũng chỉ là mưu sinh kiếm miếng cơm manh áo sống qua ngày, làm gì dư giả mà thuê người khác đi ăn cắp công thức? Mà cho dù quán của bà có là gia truyền đi chăng nữa nhưng chỉ cần đến đây ăn vài lần, xem bà nấu là biết ngay, bà có bao giờ dấu diếm cách chế biến đâu, có khi còn dạy cho người khác nữa ấy chứ. Bà hỏi như vậy cốt là để cậu ta nói ra một lý do chính đáng, giải tỏa cái thắc mắc trong lòng mà thôi.

Người thanh niên càng luống cuống hơn, nhìn bộ dạng cậu ta lúc này những tưởng cậu ta chỉ là anh em sinh đôi với người lần trước, chỉ có mặt mũi là không thay đổi, còn cách ăn nói, xử sự thì khác hẳn. Cậu gãi đầu gãi tai một hồi rồi mới trả lời được:

- Không phải đâu, tại cháu muốn làm món này cho bà cháu, bà ấy thích nhất là món này!

Bà Nghị thấy cậu ta hiếu thảo như vậy, xem ra cũng đâu đến nỗi nào, chắc là hoàn cảnh cũng có chút éo le. Bà nói:

- Dạy cho cậu thì cũng được, nhưng cậu phải nói cho bà già này biết cậu là ai, cậu ở đâu, làm nghề gì!

Cậu thanh niên ấp úng một hồi lâu, cuối cùng mới chịu nói:

- Cháu tên là Quân, sống ở làng chài trên huyện!

Bà nhớ ngày xưa hai vợ chồng còn trẻ, sức khỏe còn tốt, ngày nào hai người cũng lặn lội tới cái làng chài đó để mua nguyên liệu, vừa rẻ lại vừa tươi. Nhưng khoảng chục năm trước, bão to gió lớn, cái làng chài bé nhỏ đó chỉ còn là những đống đổ nát trên cát trắng. Nhà thuyền thì hết vốn, ngư dân thì mất việc, không còn nơi ăn chốn ở, ai rồi cũng bỏ xứ mà đi, làm gì có người nào sống ở đấy? Bà nheo mắt nhìn cậu, hỏi:

- Nhưng tôi nhớ ở đấy bây giờ chỉ toàn là cát biển, không có nhà cửa thì cậu sống kiểu gì?

- Cháu chuyển đến thị trấn này cũng gần tám năm rồi!

Hai mắt cậu trĩu xuống, để lộ trên mí mắt trái một vết sẹo nhỏ, dài đến tận đuôi mày.

Bà Nghị lại hỏi:

- Thế cậu làm nghề gì?

Người thanh niên lặng im, dường như khó nói ra, một hồi lâu mới ngập ngừng:

- Cháu... cháu đi đòi nợ thuê cho người ta!

Bà Nghị không hỏi thêm nữa. Nhìn cái cách cậu ta cư xử, rồi cái đêm cậu ta vào quán rồi để lại một vũng máu trên ghế thì bà đã đoán được phần nào. Có lẽ chỗ máu đó cũng không phải là của cậu.

- Thật ra cháu cũng không muốn làm cái công việc gớm ghiếc này, nhưng không làm thì biết lấy cái gì mà ăn, lấy cái gì mà sống...

Giọng cậu ta nghẹn ngào rồi không thốt ra được nữa.

- Con người sao mà cứ thích đổ lỗi cho hoàn cảnh, không lẽ bao nhiêu người mất nhà, mất cửa, họ cũng đổ xô đi ăn trộm, ăn cướp hết hử? Tôi sẽ dạy cho cậu nấu món này, nhưng ngày mai hãy quay lại, hôm nay tôi bận rồi!

Bà nói rồi đứng phắt dậy, quay lưng đi vào nhà, bỏ mặc cậu ta ngồi ở đó. Bà thấy trong lòng khó chịu, chẳng hiểu bọn trẻ bây giờ nghĩ thế nào mà cứ đâm đầu vào tệ nạn, không trộm cướp thì cũng hút chích, khiến cho bao nhiêu người phải khổ sở. Mà chẳng ai xa lạ, chính cái Thùy con ông Hóa cũng là nạn nhân của đám thanh niên hư hỏng, nghiện ngập rồi trộm cướp đấy chứ đâu. Con bé vừa xinh xắn, lễ phép, vừa giỏi giang, hiếu thuận, tuổi xuân chỉ vừa chớm, thế mà cái bọn khốn nạn kia lại nhẫn tâm cướp đi tính mạng của nó. Bà càng nghĩ thì càng thấy đau lòng, càng đau lòng lại càng thêm tức giận.

Mãi một lúc sau bà mới quay trở ra, cậu ta đã đi rồi. Cái bàn mà cậu ta vừa ngồi cũng sạch sẽ hơn mọi khi, chỉ thấy mì trong bát đã hết, bên cạnh có một tờ giấy bạc phẳng phịu nằm dưới hai chiếc đũa. Bà dọn dẹp một lượt trong quán rồi tranh thủ đóng cửa, đi sang nhà cô Mai.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chương 1: Biến Cố Thời Thơ Ấu

Dưới Chân Cầu

Lời Chưa Nói