Quán Ăn Cũ: Phần 3


- Đã hai năm rồi cụ ạ!

Anh lau đi những giọt nước mắt nóng hổi còn chảy dài trên gương mặt hốc hác, cố trấn tĩnh lại. Bà Nghị tròn mắt nhìn anh.

- Cái ngày thảm khốc đó... cháu thật sự không thể nào quên, không thể nào...

Giọng của anh trầm xuống, đứt đoạn.

Bà nhớ lại ngày hôm đó, cách đây chắc cũng hai năm rồi. Hôm đó trời rất đẹp, ngoài đường lớn ồn ào, người ta đổ xô đến chỗ cây cột đèn ngay ngã tư. Bà thấy mọi người bàn tán xôn xao, không biết có chuyện gì nên cũng đi nhanh ra đầu hẻm coi thử. Mấy chục con người đang vây quanh một cô gái đang nằm im trên vỉa hè, bà len lỏi qua đám người, chen được đến kế bên cô gái thì ôi thôi, là cái Thùy, con của ông già Hóa đây mà! Trên người cô còn mặc bộ áo dài màu xanh lam, chắc là vừa ở trường về. Bà luồng tay xuống dưới đầu cô bé, cố gắng đỡ cô ấy ngồi dậy, nhưng than ôi, cả bàn tay bà ướt đẫm, dòng máu đỏ cứ không ngừng chảy ra, toàn thân bà đờ đẫn rồi bắt đầu run lên cầm cập. Miệng bà lắp bắp phát ra những âm thanh nho nhỏ:

- Ai đó... làm ơn... làm ơn... gọi xe cứu thương!

Từ đằng xa có một ông già gầy còm chạy tới, lão chân thấp chân cao, hai tay quơ quào chen vào trong đám người. Lão đẩy bà Nghị sang một bên, ôm chầm lấy cô gái, bế thốc cô ấy lên, hai cánh tay gầy gò gân guốc ấy không biết lấy đâu ra thứ sức mạnh phi thường như thế. Lão gào lên như một kẻ điên, ôm cô gái xông ra khỏi đám đông đang vây quanh. Người ta chỉ thấy lão già đó chạy về hướng bệnh viện thị trấn, nước mắt cứ giàn giụa tuôn ra trên gương mặt nhăn nheo của lão, miệng không ngừng hét lên: "Con ơi!", "Con ơi!" Tiếng thét của lão át đi tiếng bàn tán nhỏ to của mọi người chung quanh, át cả tiếng xe cộ ồn ào trên đường, tiếng thét đau đớn như xé toang cả bầu trời đẹp đẽ ngày hôm đó, tiếng thét tuyệt vọng của ông già Hóa...

Ngày trước lão khác lắm, khác hẳn lúc bây giờ, một lão già thân thiện. Lão gặp ai cũng tươi cười, cứ  luôn miệng khoe về cô con gái học trường sư phạm xinh xắn, giỏi giang. Rồi từ ngày con bé lấy được thằng chồng làm công an, lão càng tự hào hơn nữa, ai cũng thấy lão hớn hở ra mặt, mấy người khách mang đồng hồ đến tiệm có khi lão sửa mà chẳng cần lấy tiền công, lão bảo giúp đỡ mọi người thì cũng là tích chút công đức cho con cháu, lão mong có đứa cháu ngoại lắm rồi. Ấy vậy mà đời thì cay nghiệt quá, lão có nằm mơ cũng không ngờ bất hạnh lại ập xuống đầu mình nhanh đến thế. Đùng một cái, ông trời đã lấy đi đứa con gái độc nhất của lão, đứa con mà lão xem như lẽ sống của đời mình, còn thằng rễ thì từ ngày vợ mất, nó cứ lao đầu vào công việc, chẳng đoái hoài gì đến lão. Bao nhiêu mất mát làm cho lão như biến thành một con người khác. Lão đổ hết mọi tội lỗi cho những người xung quanh, những con người vô cảm đã trơ mắt đứng nhìn đứa con gái độc nhất của lão nằm thoi thóp trên cái vỉa hè lạnh lẽo đó. Lão tự cô lập mình, lão ở lì trong nhà, chẳng gặp một ai. Một ông già răng đã long, đầu đã bạc, ở cái độ tuổi gần đất xa trời, vậy mà ở bên cạnh chẳng có lấy một người thân, một kẻ thích, một ông già cô độc đến đáng thương.

- Có lẽ ông ấy vẫn còn giận cháu lắm!

Anh Hoàng nói, giọng vẫn còn run run.

Bà Nghị vuốt nhẹ bàn tay anh, bàn tay lạnh giá như băng. Bà biết anh đau khổ, dằn vặt như thế nào, một người đàn ông với vẻ ngoài rắn rỏi, mang trên người bộ sắc phục công an, vậy mà sâu thẳm trong tâm can cũng chỉ như một đứa trẻ yếu đuối, cố trốn tránh một hiện thực tàn nhẫn. Bà vào trong rót cho anh một cốc bia, nhè nhẹ đặt lên bàn, nói:

- Đôi lúc, ai trong chúng ta cũng cần một liều thuốc an thần!

Anh gượng cười, hớp một hớp bia, lôi trong túi quần ra một bao thuốc lá. Anh châm lửa đốt một điếu, rít một hơi thật sâu rồi thở ra như cố gắng trút hết mọi tâm sự trong lòng. Khói thuốc lượn lờ, phảng phất thành từng mảng, là là ngay trước mặt, giống như những mảng ký ức ngày hôm đó chợt ùa về, vây quanh rồi bám riết lấy anh mà chẳng chịu tan ra.

Hôm đấy là một ngày cuối tuần, cả anh và vợ đều tan ca sớm, hai người hẹn nhau đi ăn tối để kỷ niệm tròn ba năm yêu nhau. Anh rời cơ quan vào đầu giờ chiều, trên đường về nhà không quên ghé vào một tiệm hoa. Một bó hồng tươi thắm với ba mươi sáu bông được gói lại gọn gàng, treo cẩn thận trên chiếc xe máy. Họ yêu nhau ba năm, nhưng về chung một nhà thì chỉ mới một năm nay thôi. Anh vẫn còn nhớ như in ngày hai người cùng nắm tay đi vào lễ đường, lúc đó anh thấy mình là người đàn ông hạnh phúc nhất trên đời, trước mặt là một cô gái xinh đẹp với chiếc áo cưới màu trắng tinh khôi, khoảnh khắc đó với anh giống như một giấc mơ, một giấc mơ mà anh không bao giờ muốn tỉnh lại.

Những dòng suy nghĩ lãng mạn ấy bị cắt ngang bởi tiếng chuông điện thoại, anh dừng xe, nhấc máy, đầu dây bên kia là trung úy Thành:

- Trên đoạn đường gần nhà anh vừa xảy ra một vụ cướp, hai nghi phạm điều khiển xe máy chạy về hướng quốc lộ, anh có thể đến đó ngay được không?

Anh nhận lệnh, chiếc xe tăng tốc đột ngột, một bóng xanh thấp thoáng lao nhanh trên con đường.

Một cửa hàng tiện lợi vừa bị cướp. Hai nam thanh niên đi xe máy giật túi xách của một nữ khách hàng ngay đằng trước cửa tiệm. Một nhân viên tả lại hình dáng và phương tiện của bọn cướp, chúng chỉ vừa rời đi được vài phút. Anh nổ máy đuổi theo, chiếc xe vọt mạnh, mấy cánh hoa lả tả rơi xuống đường.

Trong lúc cuống cuồng tẩu thoát, hai tên cướp đâm phải một người đi đường rồi bỏ chạy, anh vẫn quyết định bám theo chúng đến cùng. Sau lưng anh, người ta bắt đầu hô hoán ầm ĩ. Bọn cướp chạy được một quãng xa, mãi đến khi ra tới quốc lộ thì chiếc xe máy vừa cướp được bỗng hết xăng, cả hai tên ngã nhào xuống đường, xây xát cũng không nhẹ. Người đi đường thấy cảnh sát bắt cướp, liền hỗ trợ anh không chế hai thanh niên này.

Một lúc lâu sau mới thấy mấy đồng chí trong cơ quan đến hỗ trợ, ai nấy cũng khen anh gan dạ, anh bàn giao hai tên tội phạm lại cho họ, hẹn ngày mai lên cơ quan sẽ làm báo cáo rồi gấp gáp lấy xe đi. Bó hoa tươi giờ đây tơi tả hết rồi, anh chép miệng tiếc rẻ, lòng thầm lo không biết cô vợ có giận dỗi hay không, anh chạy xe thật nhanh về nhà.

Anh chạy ngang qua hiện trường vụ tai nạn mà hai tên cướp gây ra lúc nãy, người dân đã tản ra hết rồi. Anh chạy xe chầm chậm, thấy có mấy đồng chí giao thông đang đo đạc, chụp ảnh hiện trường, trên vỉa hè máu loang đỏ cả mấy ô gạch, không ngờ lại nặng đến vậy. Anh còn đang mãi suy nghĩ, không biết nạn nhân có qua khỏi hay không, bỗng nghe có người gọi:

- Này! Cậu Hoàng, sao cậu còn ở đây!

Một bà lão đứng ở đầu con hẻm vẫy tay gọi, anh nhìn tới nhìn lui, một hồi mới biết bà ấy đang gọi mình. Anh tắt máy, đi đến chỗ bà cụ, hỏi:

- Cụ gọi cháu ạ? Sao cụ biết tên cháu?

- Tôi ở cùng khu phố với bố vợ anh, mà chuyện đó để sau hẳng nói, ông ấy vừa bế cái Thùy chạy vào viện rồi, cậu cũng mau mau vào đó đi thôi!

Anh sửng sờ, gặng hỏi bà cụ:

- Sao lại vào viện ạ? Có phải cụ nhầm cháu với ai hay không?

Bà lão mặt càng lúc càng nhắn nhúm lại, nói:

- Nhầm thế nào mà nhầm! Cậu là cậu Hoàng, con rễ ông Hóa, chồng cái Thùy, cái Thùy nó đi dạy về thì bị người ta đụng ở đây, ông Hóa vừa ôm nó chạy vào bệnh viện rồi, cậu cũng nhanh vào xem con bé thế nào đi, tội nghiệp con bé!

Hai chân anh run rẩy, đến nổi không đứng vững được nữa, cả cơ thể quỵ xuống, bà lão phải đưa hai tay đỡ mới giúp anh không bị ngã. Anh cố lấy lại bình tĩnh, nhưng đầu óc anh bây giờ trống rỗng, chỉ biết gắng sức chạy thật nhanh về hướng bệnh viện thị trấn, quên cả chiếc xe máy đang đậu trên đường...

Bây giờ nhớ lại, anh vẫn không ngừng tự trách, nếu như hôm đó anh sáng suốt hơn, quả quyết hơn, không cố đuổi theo hai tên cướp mà dừng lại chở người bị nạn đi cấp cứu, chắc có lẽ hai vợ chồng anh vẫn còn vui vẻ, hạnh phúc biết nhường nào. Anh cũng không phải suốt ngày vùi đầu vào công việc để quên đi cái tội lỗi của mình, không phải né tránh ông bố vợ đáng thương, cô độc không một người thân bên cạnh. Hai hàng nước mắt anh chảy dài, lăn xuống gò má, rơi lả chả trên mặt bàn.

Bà Nghị nhìn anh, ruột gan như thắt lại. Bà sống ngần ấy năm trên đời với một ngôi nhà xập xệ, một cái quán ăn cũ kỹ, vợ chồng thì suốt ngày lục đục, cha con thì bất hòa, cứ tưởng như thế đã là điều bất hạnh nhất không gì hơn được nữa, nhưng ít ra bà cũng còn may mắn hơn anh, hơn ông Hóa, hơn cả khối người ngoài kia. Bà còn có ông chồng già, có cô con gái và cậu con rễ, có một đứa cháu ngoại, sắp tới lại còn có thêm một đứa nữa; còn anh và ông Hóa, thứ quý giá duy nhất mà hai người bọn họ có, bây giờ đã không còn nữa. Bà lặng im một hồi lâu, nói với anh:

- Cái Thùy nó đẹp người, đẹp nết, nhưng không may lại yểu mệnh. Thôi thì người chết cũng đã chết rồi, còn người sống dù có muốn hay không cũng phải sống tiếp, hai bố con nhà anh tại sao cứ phải tự hành hạ bản thân mà làm gì? Cứ để cho nó ra đi thanh thản đi! Bà già này cùng lắm sống trên đời trước anh mấy chục năm, ăn hơn anh mấy nắm muối, thôi thì nghe tôi khuyên, hôm nào cứ sang gặp ông ấy, cho lão vui. Mà lão chắc cũng chẳng giận hờn gì anh đâu, lão thương cái Thùy bao nhiêu thì cũng quý anh bấy nhiêu!

Anh Hoàng dụi điếu thuốc xuống bàn, rầu rỉ nói:

- Cháu cũng tính là sẽ sang gặp ông ấy cụ ạ, nhưng chắc là phải một thời gian nữa cơ!

Anh hớp thêm một ngụm bia rồi nói tiếp:

- Cụ gói mớ thức ăn cho cháu mang về được không ạ? Bây giờ cháu không thấy đói!

Bà Nghị gật đầu, gói hết đồ ăn vào trong mấy cái bọc, dặn đi dặn lại là phải hâm cho nóng rồi mới được ăn. Anh cảm ơn bà rồi sách mấy cái bọc ra về.

Bầu trời đêm chỉ loáng thoáng mấy ánh sao, gió nam lùa từng cơn ớn lạnh, anh cứ lửng thửng bước đi trong vô thức. Con người ta dù có đi đến đâu, có vấp ngã thế nào, có chịu bao nhiêu mất mát thì cũng không bao giờ từ bỏ cái ước muốn được trở về nhà, trở về với gia đình, bởi ở đó có những người mà họ yêu thương, là nơi yên bình nhất, nơi ấm áp mà bất cứ đâu cũng không bì được, nơi họ có thể ngủ yên giấc mà chẳng cần biết ngày mai ra sao. Nhưng anh không nghĩ vậy, anh cố lê từng bước thật chậm, anh muốn mình đi chậm đến mức sẽ chẳng bao giờ về được đến nhà, vì với anh bây giờ, nơi đó chẳng khác nào nhà giam, nơi mà hằng đêm anh phải đối diện với chính cái tòa án do lương tâm anh phán xử. Anh cứ bước đi trong đêm tối như thế, thật chậm, thật chậm, đến khi hai mắt nhòe hẳn đi, trời đất như quay cuồng trước mặt, anh không còn biết gì nữa...

Đã hơn một tuần, bà Nghị không thấy anh Hoàng ghé qua đây, bóng dáng ông già Hóa cũng chả thấy đâu, bà tự nhủ hai bố con nhà đấy đều cứng đầu như nhau, chắc lại đang chui nhủi ở cái xó xỉnh nào đó nữa rồi. Cô Mai con bà cũng sắp sinh, bà loay hoay với cái quán ăn, chăm nom ông chồng già, giờ lại phải lo cho đứa con gái, thành thử cũng không còn tâm trí đâu mà lo cho người khác. Bà tính bán hết ngày hôm nay rồi sẽ nghỉ vài bữa để vào viện chăm con gái, cho nên đã hơn sáu giờ tối mà quán vẫn chưa đóng cửa. Trong quán cũng còn mấy người khách, ai cũng ăn uống gần xong hết cả rồi, bà chỉ đợi lượt khách này ra về là dọn dẹp, đóng cửa luôn một thể.

Chợt có tiếng bước chân càng lúc càng gần, ngoài đường lớn vắng xe cộ nên bà nghe rất rõ, ai đó đang chạy về hướng quán ăn. Người đó chạy thục mạng vào trong quán, quần áo màu đỏ thẫm, thấy cái bàn chính giữa không có người nên ngồi luôn xuống đó, bộ dạng thất thần như vừa bị ma đuổi. Ở bàn bên cạnh có hai mẹ con đang ăn cơm, đứa bé khoảng chừng sáu, bảy tuổi, người đó vừa ngồi xuống nó liền kéo tay bà mẹ, nói:

- Mẹ ơi! Chú này lớn rồi mà còn nghịch quá, lấy màu nước bôi đầy người!

Người phụ nữ nghe con nói mới quay sang nhìn, bà ta hoảng quá, vội lấy tay bụm miệng thằng bé lại, rút ra mấy tờ bạc để trên bàn rồi bồng thằng bé chạy thẳng một mạch ra khỏi quán. Mấy người khách còn lại không hiểu sao cũng ùa chạy theo sau, có người vội quá quên luôn cả trả tiền, bà Nghị phải chạy theo ra tận cửa nhắc thì họ mới nhớ ra.

Bà chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì, đi đến chỗ người khách mới vào, thấy người cậu ta mồ hôi mồ kê nhễ nhại, uớt đẫm luôn cái áo sơ mi màu đỏ thẫm. Bà thấy mặt mũi cậu quen quen, hồi lâu mới nhớ ra, chính là cậu thanh niên thiếu phép tắc hôm trước. Cậu thanh niên thấy bà chứ nhìn mình chằm chằm, liền quát lớn:

- Nhìn cái gì? Bà già! Làm cho tôi một bát mì hải sản lớn vào!

Bà Nghị giật bắn người, muốn đưa tay lên tán cậu ta một cái cho chừa cái thói vô phép, nhưng nghĩ lại thì dẫu sao cậu ta cũng là khách, ai đời một bà già hai thứ tóc lại đi đôi co với thứ con nít làm cái gì. Bà quay vào trong, vừa đi vừa trả lời cho có lệ:

- Chờ một chút!

Bà làm mì xong, mang ra bàn rồi tới ngồi ở trước cửa, cứ mặc cậu ta muốn ăn kiểu gì thì ăn, có thiếu thứ gì thì tự mà lấy, mà bà nghĩ cậu ta cũng chẳng thấy thiếu thứ gì đâu, có chăng là thiếu lễ phép mà thôi. Bà vừa ngồi vừa ngẩm nghĩ, miệng lẩm ba lẩm bẩm.

Nghe "cạch" một tiếng rõ to, giống như lần trước, cậu ta lại đặt đôi đũa xuống bàn như thể nó có thù với mình, để lại một tờ bạc mới tinh rồi thủng thẳng ra khỏi quán, vừa đi vừa huýt sao, điệu bộ đó chả ai mà ưa nổi. Bà chau mày nhìn hắn một cái rồi vào trong dọn dẹp.

Nhìn cái bàn mà người thanh niên kia vừa ngồi, bà chỉ biết lắc đầu rồi thở dài ngán ngẩm. Không hiểu cha mẹ cậu ta nuôi dạy kiểu gì mà để con cái ra đường ăn uống rồi bày bừa phát kinh, trên bàn không phải rau thì là giấy, vứt lung tung cả lên như cái bãi rác thu nhỏ, đến cả trên ghế cũng đổ nước sốt lên, thật quá quắc hết sức. Bà nhúng cái khăn ướt lau một hồi mà vẫn không sao sạch hết chỗ nước sốt dính trên ghế, nó lại còn có mùi tanh, ngửi một hồi cứ thấy nôn nao, muốn ói hết cả ra.

Mấy cái bóng đèn trong quán cũ hết cả rồi, cái nào cũng mờ, mắt bà lại kém, thành thử lau tới lau lui cũng không kiểu gì sạch được. Bà vào trong nhà mang cái đèn để phòng khi mất điện ra dùng, bấy giờ mới thấy rõ, cái thứ dính trên ghế có phải là nước sốt như bà nghĩ đâu. Nó đông lại, đỏ thẫm, hình như là máu...

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chương 1: Biến Cố Thời Thơ Ấu

Dưới Chân Cầu

Lời Chưa Nói