Quán Ăn Cũ: Phần 2


Mấy hôm nay trời cứ mưa, mưa từ sáng đến tối. Trong quán chỉ có vài người khách đang dùng cơm trưa, bà Nghị ngồi thẫn thờ nhìn lên bầu trời đen nghịt, trong bụng thầm chán nản. Từ ngày cái Mai nó mang bầu đứa thứ hai, đêm nào bà cũng trằn trọc không ngủ được. Hai vợ chồng nó công ăn việc làm còn chưa ổn định, sinh thêm đứa nữa thật không biết lấy cái gì mà nuôi. Biết ông chồng già còn giận đứa con gái, thỉnh thoảng bà mới dám gửi cho chúng ít tiền dành dụm được. Khổ nỗi anh con rễ của bà sĩ diện lắm, nói kiểu gì thì anh cũng không chịu nhận, bà đành phải âm thầm đưa cho đứa con gái mới xong. Từ đầu năm tới giờ, ông chồng của bà đau ốm liên miên, tiền thuốc thang nhiều lo không xuể, cái quán ăn nhỏ này thì buôn bán cũng chẳng khá khẩm gì cho cam, bà muốn mua cho đứa cháu ngoại sắp sinh mấy bộ đồ sơ sinh cũng không được, mỗi lần nghĩ đến lòng bà cứ quặn lại, gương mặt già nua hấp háy lại nhiều thêm vài nếp nhăn.

Ngoài trời đã ngớt mưa nhưng chưa tạnh hẳn, lớt phớt mấy hạt bé li ti vẫn đều đặn rớt xuống, mái hiên làm bằng tôn cứ phát ra những tiếng tinh tang như một bản nhạc buồn. Dưới làn mưa lất phất, một dáng người vừa quen lại vừa lạ cứ lửng thửng bước đi, trên đầu đội một chiếc nón cối đã cũ, chầm chậm dừng lại trước cửa quán ăn nhỏ. Lão đứng trước cửa một hồi lâu, chân ngập ngừng nửa muốn vào, nửa muốn không, sau cùng cũng bước vào trong.

Bà Nghị đang suy nghĩ vẩn vơ, thấy lão đi vào mới giật mình, hỏi:

- Hôm nay cụ Hóa lại ghé chỗ tôi ủng hộ đấy à? Đã quá giờ cơm trưa rồi, cụ chờ tôi một lát!

Bà vội đi chuẩn bị đồ ăn cho ông Hóa. Mặt mày lão lúc nào cũng nhăn nhó, bây giờ lại thêm phần đăm chiêu, càng khó coi hơn nữa.  Lão vội vàng nói với bà Nghị:

- Ấy khoan, tôi ăn cơm rồi, phiền chị cho tôi một cốc bia!

Bà thấy hơi quái lạ, xưa nay có bao giờ nghe lão thích nhậu nhẹt đâu? Không lẽ bấy lâu nay lão ru rú trong nhà để làm con ma men? Mấy lão già trong cái khu phố này sao cứ thi nhau mà đổ đốn hết vậy cơ chứ! Bà rót một cốc bia tươi mang ra cho lão, gắt gỏng:

- Cụ có uống thì uống ít ít cho tôi nhờ, quán tôi là quán ăn chứ không phải là quán nhậu đâu đấy!

Ông Hóa nhìn bà chằm chằm, môi mấp máy như muốn mắng cho bà vài câu nhưng lại không thốt ra lời. Lão chậm rãi hớp một ngụm bia tươi, đôi mày lão nhíu lại, những nếp nhăn trên trán hiện lên rõ mồn một. Lão kéo cái ghế nhựa ra để kế bên mình, mời bà Nghị ngồi, thở ra một hơi dài rồi nói:

- Chắc là tôi dẹp quách cái cửa tiệm thôi chị ạ!

Bà nghị ngạc nhiên. Cái cửa tiệm sửa đồng hồ của lão đã có từ mấy chục năm nay, từ những ngày đầu về làm dâu trong khu phố này bà đã thấy nó sừng sững ở đầu đường, ai cũng biết đó là tâm huyết suốt một đời của lão, sao bỗng dưng lão lại đòi dẹp tiệm? Mà hà cớ gì lão lại đi nói với mình? Đúng là cái lão già khó ưa quái đản!

Ông Hóa hớp thêm một hớp bia, cơ mặt của lão bắt đầu giãn ra, ánh mắt như dịu lại, mặt mày lão thấp thoáng một niềm vui khó tả. Lão chầm chậm nói:

- Chắc là tôi về quê sống luôn chị ạ! Cái Thùy nó đã không còn, thằng rể trời đánh thì suốt ngày công với chả việc, đến gặp mặt tôi một lần mà nó cũng chẳng thèm, tôi muốn về quê dưỡng già, cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của cái Thùy. Ngày bé nó thích sống ở quê lắm, ở đó con bé có biết bao nhiêu là bạn bè, ngày nào tôi cũng thấy nó cười tươi rạng rỡ, chỉ tại tôi ham bôn ba, ham làm giàu, nếu ngày đó hai bố con cứ ở quê mà sống an nhàn, biết đâu... biết đâu...

Hai mắt lão chợt long lên sòng sọc, cổ họng như nghẹn lại, mà lão có ăn cái gì đâu cơ chứ! Lão tu một hơi cho đến khi trong cốc chỉ còn lại những bọt trắng li ti.

Bà Nghị rót cho lão thêm một cốc nữa. Bà đặt ly bia trên bàn, nói với lão:

- Cụ uống thêm một cốc nữa rồi về nghỉ. Già cả rồi, không phải như bọn thanh niên mà cứ thích mượn rượu giải sầu làm gì! Còn về chuyện của cậu Hoàng, chẳng qua chỉ là hiểu lầm thôi cụ ạ, cậu ấy...

Lão xua tay gạt đi, cướp lời bà:

- Tôi lạ gì cái ngữ ấy, cụ đừng có bênh nó làm gì, từ ngày cái Thùy qua đời, đứa con rể như nó tôi đã xem như không có từ lâu rồi!

Lão đứng phắt dậy, dúi vào tay bà mấy tờ giấy bạc nhăn nheo rồi quơ lấy cái nón cối trên bàn, đi một mạch ra khỏi quán. Một ông già tóc đã bạc trắng, mặc chiếc áo sơ mi cũ thùng thình, cái quần tây màu nâu sẫm dường như ướt hết dính đầy bùn đất, tay cầm khư khư cái nón cối đi thật nhanh dưới làn mưa lả tả như sương sa, cái bóng người gầy gò đó trông như một con đóm đóm lạc lối giữa đêm trường cô quạnh, lẻ loi và khổ sở...

Đã ba ngày kể từ hôm ông Hóa tới đây, ngoài trời nắng chói chang, mấy anh công nhân bên công trường lại kéo tới ăn trưa. Họ ngồi ở cái bàn quen thuộc, ai nấy mặt mày hớn hở, xem ra có chuyện vui. Trái ngược với không khí hoan hỷ đó, ở chiếc bàn bên cạnh, có một cậu thanh niên cứ lầm lủi húp bát mì một cách vội vã. Cậu ta dường như đang rất gấp, tiếng cậu ta húp nước lèo sồn sột cũng khó chịu vô cùng, trên bàn thì vương vãi biết bao nhiêu là cọng mì, cọng rau, giấy ăn. Bà Nghị khó chịu trong bụng, nghĩ sao lại có người ăn uống rồi bày bừa phát kinh như thế, nhưng có vẻ cậu ta mới đến đây lần đầu, cũng không tiện nhắc nhở nên bà lấy cái khăn đến chỗ bàn cậu ta đang ăn, vừa lau cho sạch sẽ vừa nhỏ nhẹ nói:

- Cậu trai trẻ từ từ mà ăn, cứ vội vàng như thế mà làm gì? Cẩn thận kẻo mắc nghẹn chứ chả chơi!

Cậu ta quăng cho bà một ánh nhìn khó chịu, chẳng nói chẳng rằng, cứ cặm cụi ăn đến khi trong bát chỉ còn lại ít nước. Buông đôi đũa xuống bàn một cách thô lỗ, một chiếc theo đà lăn đến bên rìa chiếc bàn, rơi luôn xuống đất, cậu móc trong túi ra một tờ bạc mới tinh, để trên bàn rồi rời khỏi quán. Bà Nghị gọi với theo cậu ta:

- Này, cậu trai trẻ? Còn tiền thừa thì sao?

Nhưng người thanh niên đó đã mất tăm. Bà lắc đầu ngán ngẩm, thầm nghĩ  không biết con cái nhà ai sao lại cư xử thiếu lễ độ như vậy, rồi quay lại dọn dẹp mớ lộn xộn trên bàn mà cậu ta để lại...

Ngoài đường vắng vẻ đến lạ thường, chẳng biết tại sao hôm nay không thấy một bóng người ngang qua quán, bà Nghị thức dậy từ sáng sớm, dọn dẹp mọi thứ đâu vào đấy rồi mang bữa sáng vào trong cho ông chồng. Lão mơ mơ màng màng, mở mắt ra nhìn bà rồi lại nhắm mắt lại. Bà đặt thức ăn trên chiếc bàn nhỏ cạnh đầu giường rồi quay trở ra. Tuy lão cứ nhắm mắt nằm suốt trên giường nhưng việc ăn uống, đi vệ sinh lão đều tự lo được, bà như thường ngày, định ra quán nấu đồ ăn chợt nghe lão nói:

- Hôm nay bà cứ đóng cửa quán đi, chả có ma nào nó thèm ghé đâu, năm nào mà chả thế!

Bà chợt nhớ ra, hằng năm cứ vào ngày mồng mười tháng ba âm lịch, mọi người ở thị trấn thường ở nhà nấu nướng, cúng kiếng, làm gì có ai ra ngoài ăn bao giờ. Mấy người khách quen có lẽ hôm nay cũng nghỉ làm, xem ra sẽ không có ai đến quán, vậy mà lão cứ bảo đầu óc lão lẩn thẩn, nói không chừng mình mới là người lẩm cẩm mất rồi. Bà liếc lão một cái, thấy mắt lão nhắm nghiền như đang ngủ, cũng chẳng thèm đoái hoài gì đến mình, đành đi ra khỏi phòng.

Bà Nghị ra ngoài quán, giở lịch ra coi, sực nhớ ra điều gì thì tắc lười trách thầm: "Chết chưa, chết chưa! Xem ra mình lú lẫn thật rồi!"

Bà quay vào chỗ ông chồng, dặn dò lão mấy câu rồi xách một cái túi, đi thật nhanh ra đầu hẻm, quanh vào đường lớn, thoáng chốc đã đi xa lắm rồi.

Bệnh viện thị trấn sao mà đông người đến thế, bà Nghị hỏi thắm mấy cô y tá, loay hoay hết một hồi mới tìm được chỗ cô con gái đang nằm. Hơn mười ngày nay con gái bà vẫn nằm ở đây chờ ngày sanh, bác sĩ bảo là nó sinh khó nên phải nằm viện để tiện cho việc theo dõi. Bà cứ nơm nớp trong ruột, lo lắng không thôi, nhưng còn cái quán ăn và ông chồng già  không ai coi ngó, bà đành bấm bụng phó thác hết cho cậu con rễ tay chân lóng ngóng một mình ở trong đây chăm vợ.

Cô Mai thấy mẹ vào thăm, mừng lắm, ôm lấy mẹ như đứa trẻ lâu ngày bị bỏ rơi, hai mắt cứ long lên. Bà đẩy cô ra, nhìn nhìn ngó ngó xung quanh một hồi rồi lớn tiếng hỏi:

- Thế cái thằng chồng "yêu quý" của mày đâu rồi? Mang tiếng vào đây chăm vợ mà lại bỏ bê con nhỏ một mình thế này đấy, hừ, chồng với chả con!

Cô Mai vội phân bua thay cho chồng:

- Không phải đâu mà mẹ! Anh ấy ra ngoài mua đồ ăn cho con rồi!

Bà dí ngón tay trỏ  vào trán cô:

- Đấy, đấy! Cứ nói nó một tiếng là mày lại bênh chằm chằm, trong đầu mày bây giờ chỉ biết có mỗi cái thằng chồng "yêu quý" của mày mà thôi, làm gì còn nhớ tới hai ông bà già này! Người ta nói có sai đâu, con gái gả chồng rồi thì coi như bỏ đi, mày như thế thảo nào bố mày lại...

Bà nói đến đây thì thoáng thấy mặt con gái xụ xuống, liền lảng sang chuyện khác:

- Thế sáng giờ nó chưa cho mày ăn cái gì à? Gớm, chồng với con tốt quá nhỉ!

Bà lấy cái cà mèn trong túi ra, mở nắp, mùi cháo gà thơm lừng cả phòng bệnh. Cô Mai ôm lấy cánh tay mẹ, nũng nịu như một đứa con nít, cũng may là không có thằng Tít ở đây nên cô mới dám xoa dịu cơn giận của mẹ bằng cách này. Cô cười hi hi, nói:

- Chỉ có mẹ là tốt với con nhất!

Bà đẩy nhẹ tay con gái ra, mắng:

- Đã gần ba mươi tuổi đầu rồi đấy, không sợ người khác họ cười cho thối mặt ra à! Cơ mà tôi nghĩ tôi chỉ xếp thứ hai thôi chứ!

Mai chợt nhớ ra, nhìn mấy người xung quanh, vội buông tay mẹ ra. Kế bên giường của cô còn ba chiếc giường nữa cũng có người đang nằm chờ ngày sinh, thế nhưng ai nấy lúc này cũng bận lo cho cái bụng bầu của mình, làm gì còn thời gian mà quan tâm đến người khác, nên chẳng ai buồn để  ý đến hành động của cô, chỉ là cô tự thấy xấu hổ mà thôi.

Bà Nghị muốn ở bên con gái thêm một lúc, nhưng để ông chồng ở nhà một mình thì trong bụng không an tâm, đành đợi cô con gái ăn hết bát cháo rồi ra về. Bà vừa đi vừa lo lắng, thấy con gái nằm một mình trong viện thì không nỡ, mà bỏ ông chồng bệnh tật ở nhà cũng không xong, cứ suy nghĩ mông lung rồi về đến trước cửa lúc nào cũng không hay.

Đã hơn sáu giờ tối, bà Nghị đang chuẩn bị nguyên liệu cho ngày mai, chợt nghe tiếng đàn ông ở trước cửa:

- Cụ ơi, còn gì cho cháu không ạ!

Là cậu Hoàng, hôm này là ngày nghỉ sao cậu ấy lại đến đây ăn cơm? Bà quay ra nhìn, thấy anh Hoàng trên người vẫn mặc bộ quân phục công an, mặt mũi phờ phạt. Anh Hoàng cười hì hì, vào ngồi ở một chiếc bàn trong quán, nói:

- Cháu biết là hôm nay cụ nghỉ bán, nhưng ngặt nỗi đồ ăn ở chỗ khác cháu ăn không quen, đành phải đến đây làm phiện cụ vậy!

Bà Nghị mắng:

- Tiên sư nhà anh, phiền thì đã phiền rồi, thế anh muốn ăn cái gì để cụ làm?

Anh Hoàng trầm ngâm một lúc, rồi mặt mũi anh như rạng rỡ hẳn lên như nghĩ ra một điều gì đó, anh tươi cười nói:

- Cụ làm cho cháu một phần rau luộc, kho quẹt ăn kèm với cơm trắng được không ạ?

Bà Nghị lấy làm quái lạ, không hiểu tại sao hai bố con nhà này cứ muốn ăn món đó cho bằng được cơ chứ? Từ ngày bà thay chồng trông coi cái quán ăn này, dường như  chỉ có hai người họ là gọi món này mà thôi. Lão Hóa già thì chẳng nói làm gì, lão đã ăn cái món này suốt mười mấy năm rồi, còn cậu ta thì hình như đây là lần đầu tiên, cũng không phải hình như nữa mà chắc chắc đây là lần đầu tiên, theo trí nhớ của bà là vậy. Bỗng bà nhớ ra trước giờ cậu ta tới đây đều là tự vào bếp lấy thức ăn, có món gì ăn món đó, đã bao giờ bà để cho cậu ta gọi món đâu? Nghĩ đến đó bà cười thầm, tự trách mình sao lẩm cẩm quá vậy, rồi lật đật vào bếp làm đồ ăn.

Bà dọn thức ăn lên bàn, mọi thứ từ cơm trắng đến kho quẹt đều nóng hổi, tươm tất không kém gì mấy quán ăn hạng sang trên thành phố.

Anh Hoàng cầm đũa lên, nhìn mấy đĩa thức ăn một lúc rồi lại từ từ đặt đũa xuống, nét rạng rỡ trên gương mặt chỉ vừa một lúc trước đã biến mất, hai mắt đỏ dần đi. Anh cứ ngồi đó, lặng thinh, nhìn thức ăn trên bàn, dưới ánh đèn điện hơi mờ nhạt, dường như có những giọt nước mưa vừa rơi xuống. Bà Nghị ngước đầu nhìn lên trên mái tôn, căng mắt tìm chỗ dột, bỗng bà giật mình, ngoài trời hôm nay đâu có mưa. Bà nhìn anh Hoàng, thấy hai mắt anh nhòe đi như sương sớm, đỏ hoe như ánh đèn dầu. Anh gục xuống bàn, hai bờ vai vạm vỡ rung lên theo từng đợt, anh đang khóc, khóc nức nở, khóc nghẹn ngào, khóc nhưng không thành tiếng. Bà Nghị ngồi xuống bên cạnh anh, lặng im, bà không thể tin được người ở trước mặt mình lại là cậu công an gan dạ, cứng cõi mà ngày ngày vẫn rượt đuổi bọn trộm cướp, lưu manh trên phố.

Ngoài đường vắng lặng, không tiếng xe cộ, không tiếng ồn ào, chỉ nghe tiếng lạch cạch của tấm biển hiệu bị gió thổi va vào cửa. Bên trong một quán ăn nhỏ, có hai người một già, một trẻ, cũng không có tiếng trò chuyện, trong không gian tĩnh lặng dường như chỉ nghe thấy tiếng lòng của một người đàn ông cứ không ngừng vang lên, nức nở, nghẹn ngào, tan tác, đau thương, rồi hòa vào những giọt nước mắt, thấm sâu vào từng thớ gỗ trên mặt bàn.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chương 1: Biến Cố Thời Thơ Ấu

Dưới Chân Cầu

Lời Chưa Nói