Quán Ăn Cũ: Phần 4


Cả người run rẩy, mãi một lúc sau bà Nghị mới lấy lại được bình tĩnh. Ai có thể tưởng tượng nổi một người mất máu nhiều như thế mà mặt mày thản nhiên, rồi ngồi đó ăn uống, chẳng biểu lộ ra chút gì gọi là đau đớn. Đến giờ bà mới nghĩ ra, quần áo của cậu ta cũng dính đầy máu mà mình cứ tưởng chúng có màu đỏ thẫm, cho nên đứa nhỏ kia mới thốt lên những lời như vậy. Chẳng biết cậu ta bị tai nạn hay là đi đâm thuê chém mướn, nói không chừng là một tên tội phạm nguy hiểm cũng nên. Bà mới nghĩ bấy nhiêu đã rùng mình ớn lạnh, vội kéo cửa lại, khóa cẩn thận rồi lật đật dọn dẹp quán, tắt đèn đi ngủ...

Bà Nghị thức dậy từ sáng sớm chuẩn bị cơm nước cho ông chồng, thấy lão còn ngủ nên bà đặt đồ ăn ở trên bàn, rồi vội vã đi ra ngoài. Bà xách theo một cái giỏ lát thật lớn, bên trong toàn là đồ dùng cho phụ nữ mới sinh. Bà còn hầm nguyên cả cái giò heo với đu đủ đựng trong hai cái cà mèn, lần trước cô Mai sinh thằng Tít bị thiếu sữa nên lần này bà chuẩn bị mọi thứ thật tươm tất.

Trời còn chưa sáng mà trong viện cũng không yên tĩnh gì mấy, tiếng người ta rên rỉ, tiếng thân nhân trò chuyện, tiếng mấy cô y tá giục nhau đi làm việc, rồi cả tiếng trẻ con khóc oe oe. Bà đi hết hai dãy hành lang mới tới căn phòng mà cô con gái đang nằm. Trước cửa phòng hộ sinh, người ta trải chiếu nằm sắp lớp, chật kín cả lối đi, toàn là mấy anh đàn ông đi chăm vợ đẻ. Bà lắc đầu, chẳng hiểu chăm vợ chăm con cái kiểu gì mà lão nào cũng ngủ say như chết, có ông còn ngáy khò khò, cứ tự nhiên như đang ở nhà.

Bà vào trong phòng, thấy cô Mai nằm trên một chiếc giường ở trong góc, bên cạnh là đứa con nít còn đỏ hỏn, đã sinh được vài giờ rồi, hai mẹ còn đều ngủ cả. Bà nhẹ nhàng đến bên cạnh, nhìn đứa bé, thấy khuôn mặt nó bụ bẫm, hai hàng mi cong dài, cái mũi cao cao sao mà đáng yêu đến thế, thiệt giống hệt cái Mai lúc còn bé.

Tiếng đàn ông ồm ồm phía sau lưng làm bà giật mình:

- Mẹ mới vào đấy ạ? Cô ấy vừa ngủ được một lúc!

Bà ngoái đầu lại, là anh Sang, con rễ bà.

Bà Nghị nheo mắt nhìn anh, tỏ vẻ khó chịu nói:

- Anh chăm vợ chăm con cái giống gì mà tôi đến đây nãy giờ không thấy anh? Còn thằng Tít đâu, sao không thấy nó?

Anh Sang gãi đầu gãi tai, miệng cười hì hì, nói:

- Con mệt quá nên ra ngoài chợp mắt một tí, thằng Tít còn ngủ ở nhà mẹ ạ, sáng nay nó còn phải đi học!

Cặp mắt nheo lại, hai hàng lông mày lưa thưa như muốn chạm vào nhau, bà nhìn anh như thể không hài lòng rồi chẳng nói thêm tiếng nào.

- Mẹ đấy ạ? Con mệt quá nên không biết mẹ vào!

Cô Mai hé mắt nhìn, khuôn mặt nhợt nhạt. Bà Nghị kéo chiếc ghế lại sát bên giường con gái rồi ngồi xuống. Anh Sang muốn để cho hai mẹ con họ trò chuyện, liếc nhìn đứa con gái mới sinh một cái rồi đi ra ngoài.

- Mẹ biết cái thằng chồng vô tích sự  của mày chắc là chưa chuẩn bị gì nên là có hầm canh giò heo mang vào, để mẹ đút cho mà ăn, ăn rồi còn có sức mà lo cho con bé!

Trên mặt cô thoáng lên một nét buồn, cô vừa thương mẹ khổ tâm lo cho mình, vừa giận mẹ sao nặng lời với chồng mình như vậy. Bà Nghị biết ý con, không nói nữa, lấy canh giò heo sớt ra bát, đút cho cô từng thìa, từng thìa một.

Cô uống hơn nửa bát canh thì tươi tỉnh hơn một chút. Quay sang nhìn đứa con gái nhỏ, hai mắt cô ngân ngấn, thều thào:

- Con đã từng tuổi này rồi mà còn khiến cho cha mẹ phải cực khổ, lo lắng, không biết mai này cái Trúc lớn lên có như vậy không hả mẹ?

Nghe cô nói như vậy bà không khỏi chạnh lòng, nhưng cố phớt lờ đi, nói lảng sang chuyện khác:

- Gớm, chúng bây đã đặt tên cho nó rồi đấy à?

Cô Mai nhoẻn miệng cười, vẻ tự hào hiện rõ trên khuôn mặt, đáp:

- Vâng ạ, là lão chồng nhà con nghĩ ra đấy, hay lắm phải không mẹ?

Bà khẽ gật đầu. Nhìn đứa cháu gái mới sinh, bao nhiêu buồn vui, lo lắng chất chứa trong lòng bấy lâu nay dường như tiêu tan hết, chỉ còn lại đó những ấm áp vô thường...

Cô Mai nằm trong viện hết một tuần. Bà Nghị cứ sáng vào chăm con, trưa về cơm nước cho ông chồng, chiều tối lại tiếp tục vào bệnh viện, mãi đến nửa đêm mới về nhà tranh thủ chợp mắt một lúc, bà cứ đi đi về về liên tục như vậy suốt một tuần, cái quán ăn nhỏ cũng vì thế mà đóng cửa theo.

Hôm nay bà bắt đầu buôn bán trở lại. Con hẻm nhỏ vắng vẻ như thường lệ, suốt cả buổi trưa cũng chỉ có được vài người khách. Bà nhân lúc rảnh tay, đem mấy tấm ảnh cũ ngày xưa ra xem. Bức ảnh chụp cách đây đã hơn ba mươi năm, ngày ấy cái gì cũng đắt đỏ, cả nhà bà phải đi thuê quần áo, giày dép rồi thuê cả thợ chụp hình, tốn cũng không ít tiền. Bà mân mê tấm hình trên tay, chợt buồn chợt vui. Cái Mai lúc đó khoảng chừng bốn, năm tuổi, gương mặt rạng rỡ như nụ hoa mới chớm, còn thằng con cả của bà nữa, hồi đó nó cũng hơn mười sáu tuổi rồi. Cả nhà bốn người tuy thiếu thốn nhưng vui vẻ lắm, chẳng có ai thấy họ to tiếng với nhau bao giờ. Nhưng đời thì đâu có êm đềm mãi như vậy. Chiến tranh khốc liệt, đứa con cả hy sinh ngoài chiến trường, rồi thì con gái đi lấy chồng, trong nhà chỉ còn lại hai vợ chồng già, thành thử hai người cứ lục đục, gây gỗ mãi không thôi.

Những hoài niệm hiện lên trong trí óc khiến bà thẫn thờ, ngây ra như người mất hồn. Mãi đến khi có giọng nói sang sảng làm bà giật thót người:

- Này bà già, có buôn bán nữa không đấy? Một bát mì hải sản!

Là cậu thanh niên với giọng điệu xấc xược hôm nọ. Bà Nghị tức tối đến nỗi muốn chửi té tát vào mặt cậu ta rồi đuổi quách ra khỏi quán, nhưng nhỡ đâu cậu ta là tội phạm nguy hiểm thì sao? Có trời mới biết chuyện gì sẽ xảy ra. Bà cố kìm cơn giận, "ừ" một tiếng rồi vào bếp làm mì.

Vẫn là cái nết ăn xấu xí đó, cậu ta ăn bát mì như thể bị bỏ đói từ đời nào, xong lại đặt đôi đũa xuống. Mặc dù trên bàn vẫn bề bộn như thường lệ, nhưng bà Nghị thấy trong lòng như dịu bớt nỗi bực tức, chí ít cậu ta cũng không quăng đôi đũa như một tên du côn giống mấy lần trước. Chắc có lẽ mất nhiều máu làm cho cậu ta hòa nhã lại, giống như nhiều người sau khi thay máu thì tính tình cũng thay đổi đấy thôi, bà nghĩ vậy. Cậu tiến đến chỗ bà đang ngồi, lấy ra một xấp tiền mới tinh, mới đến nổi có thể nghe được mùi thơm của giấy bạc , rút ra một tờ phẳng phiu chưa có lấy một nếp nhăn đưa cho bà, nói lớn tiếng:

- Mùi vị thật giống với bà ấy, cám ơn vì bữa ăn, bà già!

Nói rồi đi thật vội. Bà Nghị trợn tròn cặp mắt, ai mà ngờ cái con người đó cũng có lúc nói ra được mấy lời tử tế, mặc dầu cũng không phải là dễ nghe cho lắm. Bà suy nghĩ một hồi rồi tự lắc đầu, nhủ thầm: "Trời còn có lúc mưa lúc nắng huống gì con người, thôi kệ, nghĩ lắm chỉ đau đầu!"...

Bà Nghị vừa về tới nhà đã ngồi tựa lưng vào tường, thở hổn hển. Hôm nay là đầy tháng đứa cháu ngoại, bà ở bên nhà cô Mai từ tối qua tới giờ. Con rễ của bà côi cút từ bé, bà con dòng họ cũng chẳng được mấy người, còn gia đình bà thì tái định cư ở đây, làm gì có người thân, thành thử khách khứa đa phần là hàng xóm của vợ chồng cô Mai, chưa tới hai mươi người. Bà thương con gái còn đang trong thời gian ở cử nên không cho cô đụng tay đụng chân vào, từ chợ búa tới nấu nướng bà đều chuẩn bị hết. Bà cũng đã quen với cái việc phục vụ người khác này lắm rồi nên không thấy cực nhọc gì mấy, chỉ tội cho anh con rễ tay chân vụng về, cứ lăng xa lăng xăng, bị bà mắng suốt cả một buổi sáng.

Đến xế chiều thì tàn tiệc, bà lại lao đầu vào dọn dẹp. Nhà cửa, chén dĩa đều sạch sẽ hết cả rồi, bà ẵm cô cháu gái một tí rồi ra về. Thằng Tít cứ đòi bà ở lại ngủ với nó thêm một đêm nữa, bà phải dỗ ngọt mãi nó mới chịu cho bà đi.

Trời đã chập choạng tối, bà nhìn qua nhìn lại kiếm anh Sang, muốn nhờ anh đưa về một đoạn nhưng chẳng thấy bóng dáng đâu, đành lửng thửng đi bộ về.

Bà ngồi nghỉ được một lúc thì nghe tiếng ông chồng trong nhà ho sù sụ, mới chạy vào xem thế nào. Vào đến nơi thì lão đã ngủ mất rồi, bà thở phào một cái rồi trở ra lo cơm nước, giặt giũ, sửa soạn mọi thứ cho ngày mai.

Tiếng xe cộ ồn ào, mấy cái máy trộn bê tông bên công trường cứ xình xịch kêu liên hồi, bà Nghị choàng tỉnh, đã quá mười giờ trưa, có lẽ hôm qua mệt quá nên bà ngủ quên mất.

Ngoài cửa có người gọi, giọng nói khản đặc rất quen thuộc:

- Chị Nghị có nhà không?

Bà đi ra mở cửa, thấy ông Hóa đứng đợi dưới mái tôn, ngoài trời mưa lất phất. Lão vẫn như mọi khi, quần tây xẫm màu, áo sơ mi rộng thùng thình, đầu đội nón cối, nhưng bà lại thấy dường như lão có điều gì đó khác thường, khác thường đến độ chỉ một chút nữa thôi là bà không nhận ra lão. Lão đang cười.

Mặt mày hớn hở, khác hẳn ngày thường, lão cười hà hà nói:

- Chị làm ơn cho tôi một cốc bia có được không?

Bà Nghị thấy lão đang vui vẻ như vậy, chẳng hiểu tại sao lại muốn uống bia làm gì, mấy cái thứ như rượu bia đâu có hợp với cái tuổi của lão nữa? Bà đăm chiêu nhìn lão, cặp lông mày chau lại.

Ông Hóa lại cười hà hà, nói:

- Tôi uống vì chuyện vui, chị không cần phải lo!

Lão lấy cái nón cối xuống cầm trên tay, thong thả đi vào quán. Bà Nghị đặt lên bàn một cốc bia, lão hớp một hơi gần nửa cốc rồi nói:

- Tự dưng hôm nay tôi lại thèm cái món rau luộc chấm kho quẹt, chắc phiền chị lần này nữa thôi!

Nói xong lão lại cười, hai mắt híp lại, mấy nếp nhăn trên trán cũng nhăn tít, một vẻ mặt hiền hòa đến lạ lùng. Bà "Vâng" một tiếng rồi đi làm đồ nhắm cho lão, trong bụng cứ cảm thấy khó hiểu vô cùng, điều gì khiến cho lão thay đổi khác thường như vậy?

Thức ăn nóng hổi đã dọn ra trên bàn, ông Hóa gắp một đũa rau chấm kho quẹt cho vào miệng, hớp thêm một hớp bia, trên mặt đầy vẻ mãn nguyện, ngỡ như đây là bữa ăn cuối cùng của lão vậy. Lão đưa tay lên chùi mép, nét mặt chợt trở nên trầm ngâm, nói:

- Không hiểu sao lại giống nhau đến vậy chị ạ, cái mùi vị này cứ giống hệt con bé làm!

Lão lại gắp thêm một đũa nữa rồi nói tiếp:

- Ngày trước còn ở quê, hai vợ chồng tôi khổ lắm chị ạ, tới gần bốn mươi tuổi mới dám sinh đứa con, vậy mà khổ thì vẫn hoàn khổ. Ngày nào cũng rau luộc với kho quẹt, tôi ngán đến tận cổ, vậy mà hai mẹ con nó cứ tấm tắc khen ngon, người làm chồng làm cha như tôi sao mà không đau lòng cho được hả chị? Tôi bàn với mẹ con nó là tới chỗ khác mà làm ăn sinh sống, chứ chui nhủi ở cái xó quê mùa đó thì biết bao giờ mới khá nổi, vậy mà có ai chịu nghe tôi đâu, cứ bảo là nơi chôn nhau cắt rốn, không bỏ được. Lúc cái Thùy được sáu tuổi, bà ấy mắc hiểm bệnh, tôi cố lắm mà cũng không đào đâu ra tiền chữa chạy, đến khi bà ấy mất tôi cũng không có tiền lo ma chay, phải nhờ làng xóm giúp cho chút đỉnh mới mua nổi cái hòm, đến giờ nghĩ lại tôi vẫn thấy có lỗi với bà ấy cụ ạ!

Nói đến đó thì giọng lão nhỏ dần, lão đưa tay lên dụi mắt rồi uống cạn luôn cốc bia.

Dẫu là hàng xóm của lão cũng gần ba mươi năm, bà Nghị cũng không ngờ đời lão lại lắm éo le đến vậy. Bà nhớ hồi đó mới về làm dâu, cái Thùy nó còn bé tí, hôm nào đi học về nó cũng sang quán của bà chơi, có hôm còn phụ bà dọn dẹp. Cô bé vừa xinh xắn, vừa hiền lành, cả nhà bà ai cũng quý mến, nhất là cái Mai. Hai đứa chúng nó hay dắt nhau đi chơi, có lúc đi mãi sang công viên ở khu phố bên cạnh, làm chồng bà phải đi kiếm chúng khắp nơi.

Bà nhớ có lần con bé lủi vào trong bếp xem chồng bà nấu ăn, bị lão mắng cho một trận sợ chết khiếp, khóc ré lên cả buổi không chịu nín. Bà dắt nó vào trong nhà dỗ dành, nói:

- Cháu vào nhà chơi với chị Mai, đừng có ở đây quậy phá ông ấy, kẻo ông ấy lại mắng cho đấy!

- Cháu đâu có quậy phá, cháu chỉ muốn học nấu ăn thôi mà, cháu muốn giống như mẹ, nấu cho bố những bữa ăn ngon nhất!

Bà xoa đầu con bé, thấy mới có tí tuổi đầu mà nó đã biết hiếu thảo như vậy mới gặng hỏi:

- Vậy cháu muốn học món gì để bác dạy cho?

Con bé vui sướng vỗ tay, reo lên:

- Dạ, là rau luộc kho quẹt, là rau luộc kho quẹt!

Bà nghĩ đến đây, nước mắt tự nhiên ứa ra, trong lòng xúc động...

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chương 1: Biến Cố Thời Thơ Ấu

Dưới Chân Cầu

Lời Chưa Nói